Archive for the ‘1001 Câu Chuyện Vật Lý’ Category

Mô phỏng hàm sóng của một photon – (Courtesy: Jeff Lundeen and Charles Bamber)

Năm 2011 đã khép lại, hai trong số những chủ đề tốn nhiều giấy mực nhất đó là những câu hỏi liên quan đến ” Hạt Higgs boson – đã tìm thấy hay chưa”, và sự kiện liên quan đến kết quả của nhóm khoa học đến từ Italy ” Phải chăng các hạt neutrino di chuyển nhanh hơn ánh sáng ?”.

Trong khi cần phải mất vài tháng đến vài năm mới có câu trả lời một cách chính xác, trang physics world đã đề cử 10 thí nghiệm và kết quả khoa học nổi bật, được cộng đồng vật lý quan tâm không kém.

1. Quan sát quỹ đạo trung bình của các hạt photon trong thí nghiệm hai khe Young.

Nhóm tác giả : Aephraim Steinberg và đồng nghiệp, đến từ Toronto, Canada.

Dẫn đầu là thí nghiệm của nhóm Aephraim Steinberg và đồng nghiệp đến từ đại học Toronto, Canada, cho thí nghiệm liên quan đến các câu hỏi cơ bản nhất của cơ học lượng tử. Với phương pháp ” phép đo yếu”, nhóm đã thành công trong việc tìm đường đi trung bình của các hạt photon đơn lẻ thông qua thí nghiệm kinh điển – Hai khe Young. Thông tin chi tiết được đăng tải trên tạp chí Science tháng 6 năm 2011 với tiêu đề ” Observing the Average Trajectories of Single Photons in a Two-Slit Interferometer”.

Trao đổi với tạp chí Physics World, giáo sư Steinberg nói” hỏi về vị trí của các hạt photon trước khi đo được chúng là câu hỏi bất thường”. ” Nhưng giờ đây, chúng ta vẫn đang đặt những câu hỏi tường chừng như rất kì dị , và việc trả lời các câu hỏi đó làm thay đổi suy nghĩ và hiểu biết bấy lâu của chúng ta về thế giới vật lý.”

2. Phép đo trực tiếp hàm sóng lượng tử.

Nhóm tác giả : Jeff Lundeen, đến từ viện đo lường lượng tử, thuộc trung tâm nghiên cứu quốc gia Canada.

Tiến sĩ Jeff Lundeen, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học Toronto năm 2006, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Aephraim Steinberg . Hiện tiến sĩ  Jeff Lundeen đang làm nghiên cứu viên tại viện đo lường lượng tử , thuốc NRC, Canada. Jeff Lundeen là tác giả chính của 3 bài báo trên Nature, 10 bài báo trên Physical Review Letters, và sở hữu 1 bằng sáng chế.

3. Tàng hình trong không-thời gian

Đứng ở vị trí thứ 3 là hai nhóm nghiên cứu, một đến từ đại học Cornell, Mỹ, của nhóm giáo sư Alexander Gaeta, và nhóm thứ hai đến từ đại học Imperial College London, Anh. Nhóm đến từ Anh đã đưa ra lý thuyết làm sao để tàng hình một sự kiện trong không gian và thời gian. Vài tháng sau, nhóm nghiên cứu đến từ đại học Cornell đã “chế tạo thành công” tấm thấu kính thời gian để có thể thực hiện được lý thuyết tàng hình. Nhóm cũng đưa ra những giới hạn vật lý của việc tàng hình trong không-thời gian.

4. Đo các tham số vũ trụ bằng lỗ đen

Nhóm tác giả, dẫn đầu là giáo sư Darach Watson và đồng nghiệp đến từ trường đại học Copenhagen, Đan mạch, và đại học Queensland, Úc đã sử dụng các lỗ đen với khối lượng siêu lớn – tạo ra các phản ứng hạt nhân vũ trụ – để làm ” thước đo” đo khoảng cách trong vũ trụ. Điều đáng quan tâm trong nghiên cứu này đó là các phản ứng hạt nhân vũ trụ xảy ra ở nhiều nời trong vũ trụ, không giống như các siêu tân tinh, nên chúng có thể làm ” thước đo” dài hạn hơn cho các thí nghiệm đo lường trong không gian.

5. Biến bóng tối thành ánh sáng

Nhóm tác giả đến từ Thụy Điễn dẫn đầuu là giáo sư Christ Wilson, đã lần đầu tiên quan sát thành công hiệu ứng Casimir động trong phòng thí nghiệm. Hiện ứng này xảy ra khi một tấm gương di chuyển cực nhanh qua một vùng chân không tạo ra các hạt photon ảo – các hạt luôn xuất hiện rồi tan biến – dính lại và tạo ra các photon thực, và có thể đo đạc được. Nhóm đã sử dụng thiết bị giao thoa siêu dẫn lượng tử ( superconducting quantum interference device) thay cho tấm gương.

6. Đo nhiệt độ vũ trụ sơ khai

Nhóm tác giả đến từ Mỹ, Ấn độ và Trung Quốc đã đưa ra số liệu chính xác nhất liên quan đến nhiệt độ của vũ trụ sơ khai, khi nó là tập hợp của các hạt quarks và gluons. Nhiệt độ này nằm trong khoảng 2 nghìn tỉ độ Kelvin. Số liệu này sẽ rất có ích cho các lý thuyết liên quan đến sắc động lực học lượng tử cũng như đến tính chất của các hạt neutrons, protons và hadrons.

7. Vị trí thứ 7 dành cho nhóm khoa học đến từ trung tâm thí nghiệm Tokai-to-Kamioka, Nhật Bản. Nhóm đã bắn các dòng hạt muon neutrino xuống dưới độ sâu 300 km, trước khi đến được máy đó, và đã phát hiện 6 hạt neutrinos đã thay đổi dao động, chuyển thành các hạt electron neutrinos. Mặc dù thí nghiệm vẫn chưa có độ tin cậy cao, những cũng làm cho các nhà lý thuyết tin tưởng vào dao động của neutrino, có thể chuyển đổi cấu hình từ muon neutrino sang electron neutrino.

8. Tia laser tạo từ tế bào sống
Nhóm nghiên cứu vật lý sinh học đến từ khoa Y đại học Harvard, do hai nhà khoa học Malte Gather và Seok Hyun Yun đã lần đầu tiên tạo ra nguồn tia laser từ một thực tể tế bào sống. Khám phá quan trọng này sẽ thúc đẩy các nghiên cứu trong lĩnh vực y sinh, đặc biệt là việc phân loại các tế bào ung thư và tế bào khỏe.

9. Máy tình lượng tử trong một thanh chip

Nhóm nghiên cứu dẫn đầu tời giáo sư Matteo Mariantoni và đồng nghiệp đến từ trường đại học California, Santa Barbara đã xậy dựng thành công cấu trúc “Von Neumann” lượng tự dựa trên các mạch điện tạo bởi các siêu dẫn và đã thực hiện hai thuật toán lượng tử cơ bản. Thiết bị sơ khai này được rất nhiều chuyên gia trong lĩnh vực máy tính quan tâm, và nó có thể mở ra kỉ nguyên máy tính mới – máy tính lượng tử toàn diện.

10. Khám phá các chất tàn dư từ Big Bang

Nhóm tác giả đến từ đại học California, Santa Cruz và đại học Saint Michael’s College ở Vermont đã lần đầu tiên thu thập được các tàn dư của vụ nổ Big Bang. Khác với các đám mây lấy từ các vụ trụ ở khoảng cách xa, hợp chất thu được của nhóm nghiên cứu chỉ gồm có các nguyên tố hiđro, helium và lithium, được cho đã xuất hiện ngay sau vụ nổ Big Bang. Nghiên cứu này mang nhiều thông tin hữu ích cho nguồn gốc hình thành của các sao và hệ ngân hà trong vũ trụ.

Bản tiếng Anh gốc được lấy từ :  Physics World

Lá thư của giáo sư Sudarshan gửi hội đồng giải thưởng Nobel tuy cũ nhưng có thể vẫn còn có ý nghĩa đến ngày hôm nay.

Sudarshan’s letter

EXCERPTS from E.C.G. Sudarshan’s letter to the Nobel Committee on the 2005 Nobel Award in Physics to Roy J. Glauber for Quantum Theory of Optical Coherence:

“In the announcement of the 2005 Physics Nobel Prize, the Swedish Royal Academy has chosen R.J. Glauber to be awarded half of the prize. The prize winners are chosen by the Royal Academy, but no one has the right to take my discoveries and formulations and ascribe them to someone else!

“The correct formulation of the quantum mechanical treatment of optics was carried out by me in my paper in 1963. In that I showed that every state can be represented in the diagonal form… This diagonal representation is valid for all fields.

“… The irony of the situation is that in spite of all these facts being available in print, the diagonal representation instead of being referred to as the Sudarshan representation is dubbed as either the P-Representation (as if Glauber discovered and named it first) or at best as `Glauber-Sudarshan’ Representation.

“While the distinction of introducing coherent states as basic entities to describe optical fields certainly goes to Glauber, the possibility of using them to describe `all’ optical fields (of all intensities) through the diagonal representation is certainly due to Sudarshan. Thus there is no need to `extract’ the classical limit [as stated in the Nobel citation]. Sudarshan’s work is not merely a mathematical formalism. It is the basic theory underlying all optical fields. All the quantum features are brought out in his diagonal representation…

“It is my belief that the Royal Swedish Academy was impartial and that to assure the proper priorities it has a Committee in Physics, with members competent to examine and understand the published work. It was also my belief that the members of the Committee did their work diligently and with care. I am therefore genuinely surprised and disappointed by this year’s choice. It would distress me and many others if extra scientific considerations were responsible for this decision. It is my hope that these glaring injustices would be noted by the Academy and modify the citations.

Give unto Glauber only what is his.”

Sincerely yours,
E.C.G. Sudarshan

Hội nghị vật lý hạt và năng lượng cao (HEP) được quan tâm nhiều nhất trong thời gian qua  International Conference on High Energy Physics vừa diễn ra tại Paris, Pháp từ ngày 22 đến ngày 28 tháng 7, năm 2010. Tại hội nghị này, số liệu của máy gia tốc Large Hadron Collider lần đầu tiên được  phân tích và công bố. Ngay sau hội nghị chính tại Paris, một hội nghị vễ tinh đã được tổ chức tại thành phố Orsay,  Pháp từ ngày 29 đến 31 tháng 7 với tiêu đề  “Higgs Hunting” ( Truy tìm hạt Higgs) – nơi giới thiệu  và so sánh những kết quả mới nhất thu được từ hai phòng thí nghiệm hiện đại bậc nhất trong lĩnh vực HEP là Tevatron ( Mỹ) và LHC ( Thụy Sĩ).

H1: Hội nghị HEP vệ tinh với tiêu đề  Higgs Hunting vừa diễn ra tại Orsay, Pháp [2]

Trên trang web giới thiệu về hội nghị Higgs Hunting (http://higgshunting.fr/ ), người ta đã nhắc đến ba cái tên gắn liền với lý thuyết trường Higgs  là Robert Brout, Francois EnglertPeter Higgs, tuy nhiên có nhiều câu chuyện hành lang liên quan đến việc : Ai thực sự là người đặt nền móng cho lý thuyết Higgs bosons, ngoài ba tên tuổi kia, những người nào có tầm ảnh hưởng không kém ? Vì sau khi số liệu sơ khai ( do LHC chưa chạy hết công suất 3.5 TeV / 7.0 TeV) được công bố, giới vật lý hạt đang rất khả quan khi  cho rằng họ đã sắp chạm vào được…hạt của Chúa. Các số liệu của LHC có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với luận văn tốt nghiệp của gần 800 nghiên cứu sinh trong lĩnh vực này, cũng như là việc sống còn với những tiên sĩ, hậu tiến sĩ đang trong giai đoạn để lấy biên chế chính thức tại các trường đại học và viện nghiên cứu . Còn đối với những vị giáo sư tên tuổi, thì việc khám phá ra hạt Higgs cũng là lúc họ được ghi danh vào danh sách : những nhà vật lý đọat giải Nobel Vật lý.

Vấn đề ở chỗ, có tới 6 nhà khoa học đã đặt nền móng cho lý thuyết trường Higgs năm 1964. Nhóm đầu tiên Robert BroutFrancois Englert đến từ Bỉ, ngay sau đó là Peter Higgs ở Scotland, và kế tiếp là Tom Kibble ( Anh) cùng với đồng nghiệp của mình ở Mỹ là Gerald Guralnik Carl R. Hagen. Tất cả đều độc lập xây dựng một lý thuyết để  giải thích  cho hiện tượng Phá vỡ đối xứng trong tương tác điện yếu ( Electroweak Symmetry Breaking) bằng việc cho rằng có một cơ chế tạo khối lượng thông qua quá trình phá vỡ tức thời của các đối xứng gauge, hệ quả là sự xuất hiện của một đại lượng scalar boson gọi là Higgs Boson – là hạt được  săn lùng nhất trong suốt 3 thập kỷ qua.Một số nhà khoa học ở tại CERN – nơi có LHC  rất lạc quan cho rằng hạt Higgs đã gần chạm tới và việc kiểm chứng chỉ là chuyện sớm hay muộn mà thôi. Hiện tại, không chỉ là cuộc chạy đua giữa Châu Âu ( CERN) với Mỹ ( Tevatron) trong việc kiểm chứng sự tồn tại của hạt này, mà còn là một cuộc họat động hành lang,ngoại giao, có phần dính đến chính trị cho chủ nhân của giải Nobel vật lý sau khi sự tồn tại của hạt Higgs được xác minh.

Trong khi giải thưởng Nobel do Hàn lâm viện Hoàng gia Thụy Điển trao tặng chi dành cho tối đa 3 nhà khoa học trong một lĩnh vực, với 3 tên tuổi đầu,  Robert Brout, Francois Englert Peter Higgs, công việc bây gờ của họ có lẽ là nghỉ ngơi và đón chờ kết quả chính thức, thì 3 nhà vật lý sau đó, Tom Kibble, Gerald GuralnikCarl R. Hagen đang  khá nóng lòng. Thực ra, họ là những tên tuổi lớn, công việc của họ không hẳn là ngóng chờ giải Nobel, song với đồng nghiệp và hàng triệu con người khác trên đất nước của họ, con đường đến với giải thưởng này gần như là một cuộc đua trí tuệ , và Nobel prize  là phần thưởng không chỉ dành cho cá nhân, mà còn là sự công nhận và là niềm vui của của một quốc gia, một dân tộc.

Tham khảo:

[1]: Nature: Physics get political over Higgs, http://www.nature.com/news/2010/100804/full/news.2010.390.html , accessed on August 5th, 2010.

[2]: Higgs Hunting Conference: http://higgshunting.fr/, accessed on August 5th, 2010.

[3]: Nobel  Prize : http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A3i_Nobel, accessed on August 5th, 2010.

Trận Anh và Đức tại vòng 1/16 của World Cup 2010 chắc còn để lại nhiều dư âm với khán giả và người hâm mộ bóng đá trên toàn thế giới. Khi 40 000 cổ động viên trên sân và hàng trăm triệu khán giá truyền hình được tivi quay lại trái bóng dội xà ngang, đi vào bên trong khung thành, dội gược lại xà ngang và sau cùng được thủ thành của đội tuyển Đức chế ngự, thì bàn thắng vấn không được trọng tài biên và trọng tài chính công nhận. Có người cho rằng, hai ông trọng tài này rất giỏi toán, cụ thể là lý thuyết đối xứng gương  ( Mirror symmetry [1] ). Song có người còn nhận định rằng, ông trọng tài biên đã không chỉ giỏi toán mà còn rất siêu vật lý, bởi vì chỉ có những kiến thức cập nhật và cơ bản của Hiện tượng khúc xạ với chiết suất âm, thì ông trọng tài mới quả quyết không công nhận trái bóng của Frank Lampard.

Chúng ta hãy cùng…tua lại tình huống tấn công của đội tuyển Anh, khi đang bị Đức dẫn trước 2-0.

June 27, 2010 - South Africa - Football - Germany v England FIFA  World Cup Second Round - South Africa 2010 - Free State Stadium,  Bloemfontein, South Africa - 27/6/10..England's Frank Lampard has shot  which hits the bar.

H.1:  Cú sút của trung vệ Frank Lampard [2]

June 27, 2010 - South Africa - Football - Germany v England FIFA   World Cup Second Round - South Africa 2010 - Free State Stadium,   Bloemfontein, South Africa - 27/6/10..England's Frank Lampard (2nd L)   scores a goal which the referee Jorge Larrionda did not give.

H.2:  Vượt qua hàng hậu vệ [2]

June 27, 2010 - South Africa - Football - Germany v England FIFA  World Cup Second Round - South Africa 2010 - Free State Stadium,  Bloemfontein, South Africa - 27/6/10..England's Frank Lampard scores a  goal which the referee Jorge Larrionda (not pictured) did not give.
H.3:  Phản ứng của thủ thành Manuel Neuer.[2]

Germany's goalkeeper Manuel Neuer watches as the ball crosses the  line during the 2010 World Cup second round soccer match against England  at Free State stadium in Bloemfontein June 27, 2010. England were  denied an equalising goal on Sunday when a Frank Lampard shot from 2O  metres out hit the crossbar and dropped well over the line.    REUTERS/Eddie Keogh (SOUTH AFRICA - Tags: SPORT SOCCER WORLD CUP IMAGE  OF THE DAY TOP PICTURE)
H.4:  Trái bóng  dội vào mép dưới xa ngang, [2]

Germany's goalkeeper Manuel Neuer watches as the ball crosses the  line during the 2010 World Cup second round soccer match against England  at Free State stadium in Bloemfontein June 27, 2010. England were  denied an equalising goal on Sunday when a Frank Lampard shot from 2O  metres out hit the crossbar and dropped well over the line.   REUTERS/Eddie Keogh (SOUTH AFRICA - Tags: SPORT SOCCER WORLD CUP IMAGE  OF THE DAY TOP PICTURE)
H.5:  Đi vào sau vạch của khung thành đội tuyển Đức. [2]

Germany's goalkeeper Manuel Neuer watches as the ball crosses the  line during the 2010 World Cup second round soccer match against England  at Free State stadium in Bloemfontein June 27, 2010. England were  denied an equalising goal on Sunday when a Frank Lampard shot from 2O  metres out hit the crossbar and dropped well over the line.    REUTERS/Eddie Keogh (SOUTH AFRICA - Tags: SPORT SOCCER WORLD CUP)
REFILE - CAPTION CLARIFICATION Germany's goalkeeper Manuel Neuer  fails to save a shot by England's Frank Lampard during a 2010 World Cup  second round soccer match at Free State stadium in Bloemfontein June 27,  2010. Lampard's shot, which video replays showed crossed the line, was  ruled to have not crossed the line.    REUTERS/Eddie Keogh (SOUTH AFRICA  - Tags: SPORT SOCCER WORLD CUP)
June 27, 2010 - South Africa - Football - Germany v England FIFA  World Cup Second Round - South Africa 2010 - Free State Stadium,  Bloemfontein, South Africa - 27/6/10..England's Frank Lampard (Not  Pictured) scores a goal which the referee Jorge Larrionda did not give.
H.6:  Đập ngược lại xà ngang trước khi bị thủ môn Manuel Neuer khống chế. [2]

June 27, 2010 - South Africa - Football - Germany v England FIFA  World Cup Second Round - South Africa 2010 - Free State Stadium,  Bloemfontein, South Africa - 27/6/10..England's Frank Lampard (R)  celebrates with Wayne Rooney after scoring a goal which referee Jorge  Larrionda did not give.
H.7: Niềm vui ngắn ngủi của đội tuyển Anh [2]

England's Frank Lampard (R), Wayne Rooney (2nd R), Steven Gerrard  (3rd R) and John Terry (L) react after their second goal was disallowed  during the 2010 World Cup second round soccer match against Germany at  Free State stadium in Bloemfontein June 27, 2010. REUTERS/Christian  Charisius (SOUTH AFRICA - Tags: SPORT SOCCER WORLD CUP)
H.8:. Phản ứng của các cầu thủ Anh khi trọng tài biên và trọng tài chính không công nhận bóng đã đi vào bên trong khung thành. [2]

England's Frank Lampard reacts to the shot at a goal that video  replay showed had crossed the line but was not given by referee Jorge  Larrionda of Uruguay during a 2010 World Cup second round soccer match  against Germany at Free State stadium in Bloemfontein June 27, 2010.   REUTERS/Kim Kyung-Hoon (SOUTH AFRICA - Tags: SPORT SOCCER WORLD CUP)
H.9: Trọng tài là…cha là mẹ, giờ chỉ biết ôm đầu tiếc nuối. [2]

Nếu dựa trên những kiến thức của khúc xạ ánh sáng – là hiện tượng ánh sáng bị gãy khúc khi đi quan mặt phân cách giữa hai môi trường trong suốt có tính chất quang học khác nhau, ví dụ từ không khí vào trong một khối thủy tinh, thì tia sáng sẽ bị lệch về phía pháp tuyến  ( Hình H.10 )
Nhưng vào năm 1968, nhà vật lý người Nga Victor Veselago đã chỉ ra rằng nếu cả độ từ thẩm và hằng số điện môi của vật liệu đều mang giá trị âm thì hiện tượng khúc xạ sẽ thay đổi, lúc này sẽ xuất hiện hiệu ứng “chiết suất âm” (negative refractive index), ở đó, tia khúc xạ sẽ không đi giống như tia khúc xạ trong hiện tượng khúc xạ thường, mà bị lệch về phía khác của pháp tuyến .
H.10:  Hiện tượng khúc xạ ánh sáng với chiết suất dương ( trái ) và chiết suất âm ( phải). [3]

Như vậy, có thể lý giải, trước trận đấu giữa hai đội Anh và Đức, tổ trọng tài đã uống nhầm cốc nước có…chiết suất âm. Và điều gì đến đã đến,

H.11:.Ống mút và hình ảnh khúc xạ của nó trong hai môi trường chiết suất dương và âm. [from: Nature 455, 299 (2008), with kind permission].* [4]

Hình vẽ H.11  có thể lý giải vì sao tổ trọng tài quả quyết trái bóng của Frank Lampard đi ra bên ngoài vạch khung thành ( hình bên phải), chứ không phải bên trong vạch khung thành ( hình bên trái) mà 40 000 cùng hàng trăm triệu cổ động viên đã ” tận mắt chứng kiến trên tivi quay chậm”.

Đề tài chiết suất âm đang rất nóng hổi, bằng chứng là có những nhà vật lý làm trong lĩnh vực này đã lọt vào danh sách ứng cử viên của giải Nobel trong những năm gần đây. Ở một góc nhìn khác, có thể quả quyết rằng tổ trọng tài không chỉ am hiểu toán học [1] mà còn rất cập nhật thông tin vật lý và ứng dụng kiến thức này vào trong thể thao, 🙂

Nguồn tham khảo:

[1]:  Vũ Hà Văn’s blog : Trọng tài học nhiều toán, http://vuhavan.wordpress.com/ , accessed on June 29, 2010.

[2]: EPLTALK, http://www.epltalk.com/in-pictures-frank-lampards-disallowed-goal-v-germany/21438, accessed on June 29th,2010.

[3]: Vạn Lý Độc Hành, Chiết suất âm trong các vật liệu sắt từ kim loại tự nhiên ở dải tần số cao, http://www.khoahoc.com.vn/print/15169.aspx accessed on June 29th, 2010.

[4]: Negative Refractive Index Materials, http://www.ati.surrey.ac.uk/tac/farewell-to-flatland, accessed on June 29th, 2010.

*: Một lọat các bài báo và kết quả liên quan đến hiện tượng khúc xạ với chiết suất âm:

1.    Valentine, V., et al., Nature 455, yyy – zzz (2008).
2.    Pendry, J. B., Shurig, D. & Smith, D. R., Science 312, 1780 – 1782 (2006).
3.    Veselago, V. G., Sov. Phys. Usp. 10, 509 – 514 (1968).
4.    Pendry, J. B., Phys. Rev. Lett. 85, 3966 – 3969 (2000).
5.    Shalaev, V. M. Nature Photonics 1, 41 – 48 (2007).
6.    Abbott, E. A., Flatland (Oxford University Press, 2008).
7.    Hoffman, A. J., et al. Nature Mater. 6, 946 – 950 (2007)
8.    Yao, J., et al., Science 321, 930 (2008).
9.    Born, M. & Wolf, E., Principles of Optics (Cambridge University Press, 1999).
10.    Wegener, M., Dolling, G. & Linden, S., Nature Mater. 6, 475 – 476 (2007).
11.    Cubukcu, E., et al., Nature 423, 604 – 605 (2003).
12.    Tsakmakidis, K. T., Boardman, A. D., & Hess, O., Nature 450, 397 – 401 (2007).